Kiến tạo phát triển - chìa khóa cải cách thành công (20/09/2017)

“Lâu nay, chúng ta chủ yếu tiến hành cải cách nhằm thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký, thay vì có những cải cách mang tính căn cơ để chủ động tăng cả lợi ích tĩnh và lợi ích động dài hạn từ hội nhập… Do vậy, cần phải thay đổi theo hướng kiến tạo phát triển mới mong cải cách thành công”, TS. Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam chia sẻ.

PGS.TS. Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện KTVN tham gia Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng (28/07/2017)

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa ký quyết định thành lập Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng.

Giải pháp để đạt tăng trưởng 6,7% (06/07/2017)

Trao đổi với Đại Đoàn Kết, TS Lê Xuân Sang - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam chia sẻ những quan điểm về tăng trưởng; những giải pháp nhằm giúp đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cho cả năm 2017 song vẫn duy trì được ổn định vĩ mô và nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Rủi ro đạo đức của 'quả đấm thép' trỗi dậy: Vì sao? (18/05/2017)

Cơ chế khuyến khích mặt tích cực, ngăn chặn động cơ trục lợi của cán bộ đại diện vốn, quản lý DNNN không thực sự phát huy hiệu quả, do đó rủi ro đạo đức trỗi dậy.

"Ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam phát triển chậm là việc dễ hiểu" - TS. Lê Xuân Sang (13/04/2017)

Tại hội thảo "Chính sách công nghiệp quốc gia của Việt Nam đến năm 2025," tổ chức mới đây, nhiều ​tham luận đã chỉ ra các bất cập đối với ngành này trong vấn đề năng lực cạnh tranh, năng suất lao động và tỷ lệ nội địa hóa... Bên lề hội thảo, Tiến sỹ Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, đã có một số trao đổi với phóng viên về cơ chế chính sách hiện nay, qua đó đóng góp những ý kiến nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp của Việt Nam trong thời gian tới. Dưới đây là toàn văn trả lời phỏng vấn của TS. Lê Xuân Sang về vấn đề này.

Cần nâng cao thế trận "phòng thủ" an ninh kinh tế trong bối cảnh hội nhập (03/04/2017)

Tham dự Hội thảo quốc tế " An ninh phi truyền thống trong tiến trình hội nhập khu vực: Kinh nghiệm EU - ASEAN và những gợi mở chính sách cho Việt Nam". TS. Nguyễn Chiến Thắng - Phó Viện Trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đã trình bày một bài tham luận có tính hệ thống về những "yếu huyệt" của Việt Nam trên mặt trận an ninh kinh tế trong bối cảnh hội nhập hiện nay và từ đó đưa ra một số giải pháp "hóa giải" các điểm yếu này. Dưới đây là toàn văn tham luận của TS. Nguyễn Chiến Thắng tại hội thảo.

TPP đổ vỡ, Việt Nam làm gì để thoát 'phận gia công'? (03/02/2017)

Nếu VN không có những cải cách căn cơ thì các nguy cơ “ngụp lặn” trong ngành gia công, lắp ráp, “sập bẫy” thương mại tự do trở thành hiện thực. Đó là khẳng định của TS Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam với Đất Việt xung quanh những khó khăn và thách thức của Việt Nam sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa chính thức ký sắc lệnh rút khỏi TPP.

PGS.TS. Trần Đình Thiên: "Năm 2017 sẽ còn khó khăn hơn nữa" (05/01/2017)

Trong buổi trao đổi đầu năm với Trí Thức Trẻ, PGS.TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nhận định năm 2017 Việt Nam sẽ còn gặp nhiều thách thức, khó khăn hơn nữa. Do đó, ông nhấn mạnh vào việc, "chúng ta cần có một tư duy, logic mới để phát triển".

Hội thảo góp ý cho Báo cáo "Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh phân cấp"

20/05/2014

Sáng ngày 20 tháng 5 năm 2014, Viện Kinh tế Việt Nam đã tổ chức Hội thảo góp ý cho Báo cáo "Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh phân cấp" trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ do TS. Nguyễn Chiến Thắng, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, làm chủ nhiệm. PGS. TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng, chủ trì hội thảo.

Tham dự hội thảo, về phía khách mời có TS. Trần Kim Chung – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cùng toàn thể cán bộ nghiên cứu và các nhân viên của Viện Kinh tế Việt Nam.

Mở đầu hội thảo, TS.Nguyễn Chiến Thắng thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày những kết quả nghiên cứu chính của đề tài.

Báo cáo được kết cấu thành ba phần, cụ thể như sau:

Phần I - Cơ sở lý luận và thực tiễn. Phần I nêu lên xu hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu; Các nhân tố thúc đẩy FDI; Các khuyến khích (ưu đãi) đầu tư; và Vấn đề thu hút FDI trong điều kiện phân cấp. Ngoài ra, báo cáo cũng rà soát kinh nghiệm thu hút FDI của một số nước như Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc.

Phần II - Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam. Phần II thể hiện khung chính sách và bức tranh thu hút FDI tại Việt Nam. Báo cáo cũng đánh giá tình hình thu hút FDI theo hướng FDI công nghệ cao, hướng phát triển công nghiệp phụ trợ, hướng đảm bảo bền vững môi trường, vàtrong điều kiện phân cấp ở Việt Nam. Ngoài ra, báo cáo phân tích các nhân tố thúc đẩy FDI tại Việt Nam như chi phí lao động, ưu đãi về thuế, đất đai đầu tư...

Từ những phân tích trên, phần III đưa ra những quan điểm, định hướng và giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.Các giải pháp được đưa ra bao gồm: Một là hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến đầu tư theo hướng nhất quán, công khai, minh bạch, có tính dự báo, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư; Hai là  đột phá về thể chế đặc khu kinh tế, khu công nghiệp hỗ trợ, chuyên sâu, và khu công nghệ cao.

Sau phần trình bày của chủ nhiệm đề tài, hội thảo đã ghi nhận rất nhiều đóng góp từ khách mời cũng như các cán bộ nghiên cứu và nhân viên của Viện Kinh tế Việt Nam.

TS. Trần Kim Chung đánh giá đây là một báo cáo toàn diện về bức tranh FDI trong bối cảnh phân cấp xét cả về ý tưởng, nội dung nghiên cứu, kết nối được mục đích với kiểm định bên trong, và có kết quả nghiên cứu tốt. Tuy nhiên, Tiến sỹ gợi ý thêm về việc kiểm chứng ba hiệu ứng (Tiebout effect, Common pool và Race to bottom effect).Nếu kết hợp nhận định bằng hình ảnh, định tính với kiểm nghiệm định lượng ba hiệu ứng trên thì báo cáo sẽ hoàn thiện hơn.Bên cạnh đó, báo cáo nên đưa ra các cơ sở biện chứng để đề xuất các giải pháp có tính thuyết phục hơn.

ThS. Phạm Sỹ An nhận định một số thành công của báo cáo như tính logic xuyên suốt báo cáo, số liệu của đề tài cập nhật và bức tranh FDI được nêu lên khá chi tiết. Tuy nhiên để đạt được mục tiêu của đề tài, báo cáo nên tô đậm thêm bối cảnh phân cấp, cụ thể là: ý nghĩa của từng phân cấp;thực trạng phân cấp ở Việt Nam thuộc loại phân cấp chủ yếu nào và cần có điều kiện gì để phân cấp trở thành nhân tố thu hút FDI. Bên cạnh đó, báo cáo nên làm rõ hơn tác động trực tiếp hay gián tiếp thông qua những nhân tố nào của phân cấp đến FDI. Báo cáo có thể xem xét đánh giá việc sử dụng FDI trước và sau khi có Nghị định 108/2006/NĐ-CP về Phân cấp quản lý Đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Chia sẻ với những nhận xét trên, TS.Đặng Phương Hoa cũng đánh giá cao tính toàn diện của báo cáo.Tuy nhiên báo cáo chưa làm nổi bật được bối cảnh phân cấp.Ngoài ra, báo cáo nên cập nhật tài liệu tham khảo về làn sóng thứ hai của FDI vào Việt Nam. Tiến sỹ gợi ý về bài học thành công từ kinh nghiệm phân cấp FDI trong vùng nội khu của đặc khu kinh tế ở Trung Quốc cũng như bài học không thành công của Bangladesh và Ấn Độ rất đáng để nghiên cứu.

TS. Phí Vĩnh Tường cho rằng lý luận chưa toát lên được FDI liên quan đến tăng trưởng và phát triển cũng như tính lan toả của FDI tới đầu tư trong nước như thế nào. Thứ hai, báo cáo nên đặt vấn đề lý luận phân cấp trong tổng thể tổ chức và quản lý nhà nước để tạo cơ sở vững chắc cho những phần phân tích phía sau.

PGS. TS. Trần Đình Thiên góp ý với nhóm nghiên cứu cần phải xem lại cách đặt giả thuyết nghiên cứu. Báo cáo nên phân tích nguyên nhân của thực trạng thu hút và sử dụng FDI hiện nay, bao gồm mô hình tăng trưởng, động cơ FDI và tập trung sâu vào khía cạnh phân cấp. Ngoài ra, báo cáo cần đánh giá xem chất lượng FDI vào Việt Nam còn kém là do thể chế, hướng lựa chon FDI hay do năng lực doanh nghiệp yếu. Kết luận hội thảo, PGS. TS. Trần Đình Thiên cho rằng các ý kiến đóng góp rất thiết thực có giá trị giúp nhóm nghiên cứu hoàn thiện báo cáo tốt hơn.

Hội thảo đã kết thúc thành công tốt đẹp.

 

Minh Châu

(Viện Kinh tế Việt Nam)