Chưa lo ngại khủng hoảng bất động sản (06/12/2017)

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 10 tháng đầu năm 2017, lĩnh vực kinh doanh bất động sản có tổng vốn đầu tư đạt gần 300.000 tỷ đồng, tăng hơn 67% so với cùng kỳ năm 2016, chiếm 28% trong tổng vốn đầu tư vào các ngành nghề. Trước việc dư luận e ngại một cuộc khủng hoảng mới đối với thị trường BĐS, nhiều chuyên gia cho rằng thị trường BĐS vẫn được kiểm soát tốt, chưa có dấu hiệu nào về một cuộc khủng hoảng mới.

Kiến tạo phát triển - chìa khóa cải cách thành công (20/09/2017)

“Lâu nay, chúng ta chủ yếu tiến hành cải cách nhằm thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký, thay vì có những cải cách mang tính căn cơ để chủ động tăng cả lợi ích tĩnh và lợi ích động dài hạn từ hội nhập… Do vậy, cần phải thay đổi theo hướng kiến tạo phát triển mới mong cải cách thành công”, TS. Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam chia sẻ.

PGS.TS. Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện KTVN tham gia Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng (28/07/2017)

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa ký quyết định thành lập Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng.

Giải pháp để đạt tăng trưởng 6,7% (06/07/2017)

Trao đổi với Đại Đoàn Kết, TS Lê Xuân Sang - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam chia sẻ những quan điểm về tăng trưởng; những giải pháp nhằm giúp đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cho cả năm 2017 song vẫn duy trì được ổn định vĩ mô và nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Rủi ro đạo đức của 'quả đấm thép' trỗi dậy: Vì sao? (18/05/2017)

Cơ chế khuyến khích mặt tích cực, ngăn chặn động cơ trục lợi của cán bộ đại diện vốn, quản lý DNNN không thực sự phát huy hiệu quả, do đó rủi ro đạo đức trỗi dậy.

"Ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam phát triển chậm là việc dễ hiểu" - TS. Lê Xuân Sang (13/04/2017)

Tại hội thảo "Chính sách công nghiệp quốc gia của Việt Nam đến năm 2025," tổ chức mới đây, nhiều ​tham luận đã chỉ ra các bất cập đối với ngành này trong vấn đề năng lực cạnh tranh, năng suất lao động và tỷ lệ nội địa hóa... Bên lề hội thảo, Tiến sỹ Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, đã có một số trao đổi với phóng viên về cơ chế chính sách hiện nay, qua đó đóng góp những ý kiến nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp của Việt Nam trong thời gian tới. Dưới đây là toàn văn trả lời phỏng vấn của TS. Lê Xuân Sang về vấn đề này.

Cần nâng cao thế trận "phòng thủ" an ninh kinh tế trong bối cảnh hội nhập (03/04/2017)

Tham dự Hội thảo quốc tế " An ninh phi truyền thống trong tiến trình hội nhập khu vực: Kinh nghiệm EU - ASEAN và những gợi mở chính sách cho Việt Nam". TS. Nguyễn Chiến Thắng - Phó Viện Trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đã trình bày một bài tham luận có tính hệ thống về những "yếu huyệt" của Việt Nam trên mặt trận an ninh kinh tế trong bối cảnh hội nhập hiện nay và từ đó đưa ra một số giải pháp "hóa giải" các điểm yếu này. Dưới đây là toàn văn tham luận của TS. Nguyễn Chiến Thắng tại hội thảo.

TPP đổ vỡ, Việt Nam làm gì để thoát 'phận gia công'? (03/02/2017)

Nếu VN không có những cải cách căn cơ thì các nguy cơ “ngụp lặn” trong ngành gia công, lắp ráp, “sập bẫy” thương mại tự do trở thành hiện thực. Đó là khẳng định của TS Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam với Đất Việt xung quanh những khó khăn và thách thức của Việt Nam sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa chính thức ký sắc lệnh rút khỏi TPP.

Nhiều người Việt chẳng biết nợ công đang là bao nhiêu?

23/10/2017

Cơ cấu và cách quy định nợ công khiến người Việt chẳng biết nợ công đang là bao nhiêu hay nợ công là gì.

Phát biểu tại Hội thảo khoa học "Tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng đến năm 2030 trong bối cảnh hội nhập quốc tế" do Liên hiệp Các hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức, TS. Lê Xuân Sang - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đã bày tỏ quan điểm lo ngại về vấn đề nợ công hiện nay.

Theo đó, TS. Lê Xuân Sang nhận định, ở Việt Nam, nhiều người thậm chí còn không biết rõ con số nợ công là bao nhiêu. Trong khi, phần lớn các nước khác đều có quy định chi tiết về nợ công, các ngưỡng cảnh báo và hành động tiếp theo của Chính phủ và các cơ quan chức năng nếu kịch bản nợ công diễn biến bất thường.

Việt Nam cũng vẫn chưa có quy định cụ thể về nghĩa vụ tương đối của Ngân hàng Nhà nước với Chính phủ và ngược lại, ít nhất là tài khóa. TS.Sang đánh giá: "Ta còn thua cả Campuchia".

Nhiều nước trên thế giới có các ngưỡng cảnh báo nợ công. Giả sử nếu khoản nợ lớn tới 63% GPD thì Chính phủ phải giải trình thế nào? Quốc hội phải có trách nhiệm như thế nào? Các kịch bản đó ra sao và kế hoạch hành động?

Hoặc quy định các trường hợp được phép vay nợ công. Như ở nước ngoài, chỉ có các trường hợp bất khả kháng như thiên tai, chiến tranh...

Rõ ràng, Việt Nam cần học các nước ở khâu chuẩn bị, vạch ra các chỉ tiêu và mục đích rõ hơn, tránh tình trạng bắt cả xã hội chung tay để trả khoản tiền nợ đi vay mà không có hiệu quả.

Bên cạnh đó, quy định về ngưỡng nợ công cũng chưa được  rõ ràng. Ngưỡng này là có hợp lý hay không, thế nào là vượt ngưỡng.

Theo Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam: “nợ công lâu nay vẫn được cho là: hết tiền thì xiết hầu bao. Điều đó dẫn tới việc nợ công cứ ngày càng tăng và tăng không kiểm soát”.

Việc xác định ngưỡng nợ công rất quan trọng. Nếu không cẩn thận sẽ xảy ra trường hợp, vỡ nợ đến nơi rồi mà vẫn ung dung hoặc thực hiện siết chặt quá sớm nảy sinh vấn đề là nhiều mục tiêu quốc gia đặt ra không thực hiện được.

Đáng chú ý, việc siết chặt quá sớm các khoản chi tiêu công, tức mức chi quá thấp sẽ tác động tiêu cực tới sự phát triển trong đầu tư vào đổi mới, phát triển đất nước. Đặc biệt là khi chúng ta sử dụng nguồn ngân sách này để đổi mới khoa học công nghệ, tăng năng lực cạnh tranh, hoặc dùng chi tiêu công mà không gây lạm phát hay các tác động tiêu cực khác.

Bên cạnh đó, vấn đề đầu tư công thời gian qua cũng rất đáng báo động khi hàng loạt các dự án của Bộ Công thương đều "có vấn đề". Điều này đặt ra sự cần thiết quy định rõ ràng hơn nữa về sự tham gia của tư nhân, nhân dân trong hoạch định, giám sát chính sách và công trình công.

Bước chuyển mình của Việt Nam đã đi từ giai đoạn “1.1” sang “1.2”. Cụ thể: “giai đoạn 1.1” là khi có bất cứ nguồn lực nào được bơm vào nền kinh tế, thì sẽ có tăng trưởng. Điều này chúng ta đã thực hiện được. “Giai đoạn 1.2” là không chỉ bơm vốn đầu vào mà chuyển sang tăng hiệu quả của các vốn đầu vào.

Để tiến đến động lực của tăng trưởng là đổi mới và sáng tạo còn một bước dài nhưng không vì thế mà chúng ta không làm. Để làm được điều đó cần phải có định hướng, hưởng thành quả "đi tắt đón đầu".

Vị chuyên gia cho rằng, Việt Nam đang đứng trước các cơ hội lớn từ tác động cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, nhất là trong xử lý Dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ thông minh... cần đưa giới trí thức vận dụng các nguồn lợi đó vào việc hoạch định và giám sát hiệu quả của chính sách công.

Tái cơ cấu hàng loạt lĩnh vực, liên kết, quản lý cán bộ

TS. Lê Xuân Sang đánh giá, việc tạo dựng mối liên kết giữa địa phương và các Doanh nghiệp còn hạn chế.

Đến nay hầu như không có định chế tổ chức nào, có tác động đáng kể tới các thể chế liên kết vùng (3 vùng Tây xóa bỏ). Trong khi các dạng liên kết khác mang tính hình thức, hành chính. Các thể chế kết nối kinh doanh bị hiểu sai, coi nhẹ.

Đặc biệt là chính sách cho vườn ươm công nghệ thì gần như bị bỏ quên, chậm đổi mới về khung pháp lý, chính sách phát triển.

Đáng nói là khung pháp lý, chính sách phát triển Cụm liên kết ngành còn tồi tệ hơn.

Thể chế phát triển công nghiệp hỗ trợ thiếu tính kiến tạo phát triển, không tính đến xu thế thị trường, mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị nên hầu hết là thất bại.

Tiến sỹ Lê Xuân Sang - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

TS. Lê Xuân Sang.

Đề cập tới các mối liên kết cần tái cơ cấu như liên kết địa phương và liên kết doanh nghiệp bền vững, TS. Lê Xuân Sang giải thích, các thể chế liên kết kinh doanh chưa đủ hiệu quả cùng với trình độ yếu kém của doanh nghiệp trong nước đã khiến nền kinh tế bị chia cắt giữa các địa phương và tồn tại nền kinh tế lưỡng nguyên (FDI, DN rong nước).

Trong cải tổ cách thức hoạch định chính sách và pháp luật, TS. Sang cho rằng cần nhấn mạnh vào 3 điểm chính gồm:

Một là, tăng cường sự tham gia của tư nhân, người dân trong hoạch định, giám sát chính sách và công trình công.

Hai là, tăng nguồn lực cho lực lượng hoạch định chính sách: tiền, nhân lực (số lượng, trình độ).

Ba là, tận dụng, nắm bắt tác động của Cách Mạng công nghiệp 4.0, nhất là big data, trí tuệ thông minh, IOT..

TS. Lê Xuân Sang cho rằng, để tái cơ cấu quản lý cán bộ, quản lý doanh nghiệp, cần nhấn mạnh tiêu chuẩn, đề bạt, tuyển chọn và kỷ luật công chức còn nhiều bất cập, nặng về tiêu chuẩn chính trị và ý thức hệ.

Cải tổ thể chế tuyển chọn, bổ nhiệm và bãi nhiệm cán bộ, công chức chỉ mới thay đổi đôi chút gần đây, nhất là trong tuyển chọn.

(Theo PV Cúc Phương)

TVH

(https://www.baomoi.com)