Kinh tế 2018 sẽ tiếp đà tăng trưởng (17/02/2018)

Kinh tế Việt Nam 2018 được các chuyên gia kinh tế nhìn nhận sẽ tiếp đà tăng trưởng.

Chính sách nào cho mô hình kinh doanh Grab và Uber? (24/01/2018)

Hiện vẫn đang còn nhiều tranh cãi về hình thức của các mô hình Grap/Uber và đang gây lúng túng trong quản lý.

TS. Trần Đình Thiên cảnh báo về nguy cơ “bong bóng” trong năm 2018 như đã xảy ra 10 năm trước (09/01/2018)

“Năm 2018 có thể là năm xoay chuyển nhưng cũng có thể gây ra bong bóng”, TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam nói và dẫn chứng 3 yếu tố đã từng gây ra “bong bóng” 10 năm trước. Nhận xét này được ông Thiên đưa ra tại Hội thảo “Cơ hội đầu tư - kinh doanh 2018” do Trung tâm Tin tức VTV24 và BizLIVE tổ chức diễn ra tại Trung tâm hội nghị Quốc tế FLC Sầm Sơn, Thanh Hóa.

"Muốn không lỡ tàu cách mạng 4.0, Việt Nam phải cắn răng trả giá nhưng hình như cái cắn răng đang hơi yếu!" (19/12/2017)

Trong một thời gian ngắn, cách mạng 4.0 đã mang đến những sản phẩm ấn tượng như tiểu thuyết được trí tuệ nhân tạo chắp bút hay một cô robot có cảm xúc được thừa nhận quyền con người. Làn sóng công nghệ lan nhanh khiến nhiều quốc gia, nếu không chuyển mình sẽ bị bỏ lại và gánh nhiều hệ luỵ.

Bùng nổ vốn đăng ký đầu tư bất động sản, mừng hay lo? (17/12/2017)

Theo Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam - TS. Lê Xuân Sang, vốn đầu tư đăng ký mới trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản tăng mạnh không có nghĩa là thị trường bất động sản đã quá nóng và mất kiểm soát.

Không còn là thách thức, 4.0 sẽ là mối đe dọa hủy diệt thật sự với các doanh nghiệp (DN) Việt Nam (15/10/2017)

Không còn là thách thức, 4.0 sẽ là mối đe dọa hủy diệt thật sự với các doanh nghiệp (DN) Việt Nam vốn chỉ “sống” bằng việc bám vào các DN Nhà nước hoặc không có khả năng tiếp cận, thay đổi mô hình để phát triển. Những thách thức lớn cũng sẽ đặt ra với các DN công nghệ của Việt Nam cũng như cả nền kinh tế.

Kiến tạo phát triển - chìa khóa cải cách thành công (20/09/2017)

“Lâu nay, chúng ta chủ yếu tiến hành cải cách nhằm thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký, thay vì có những cải cách mang tính căn cơ để chủ động tăng cả lợi ích tĩnh và lợi ích động dài hạn từ hội nhập… Do vậy, cần phải thay đổi theo hướng kiến tạo phát triển mới mong cải cách thành công”, TS. Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam chia sẻ.

PGS.TS. Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện KTVN tham gia Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng (28/07/2017)

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa ký quyết định thành lập Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng.

"Ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam phát triển chậm là việc dễ hiểu" - TS. Lê Xuân Sang

13/04/2017

Tại hội thảo "Chính sách công nghiệp quốc gia của Việt Nam đến năm 2025," tổ chức mới đây, nhiều ​tham luận đã chỉ ra các bất cập đối với ngành này trong vấn đề năng lực cạnh tranh, năng suất lao động và tỷ lệ nội địa hóa... Bên lề hội thảo, Tiến sỹ Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, đã có một số trao đổi với phóng viên về cơ chế chính sách hiện nay, qua đó đóng góp những ý kiến nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp của Việt Nam trong thời gian tới. Dưới đây là toàn văn trả lời phỏng vấn của TS. Lê Xuân Sang về vấn đề này.

- Thưa ông, những lo ngại về ngành công nghiệp nhất là công nghiệp phụ trợ đã được chuyên gia đề cập tới, vậy ông đánh giá thế nào về chính sách phát triển công nghiệp trong thời gian vừa qua?

Tiến sỹ Lê Xuân Sang: Cũng phải nói rằng, trong vài thập niên qua, chính sách phát triển ngành công nghiệp của Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận. Có thể thấy, cùng với sự hỗ trợ của ngành công nghiệp đã góp phần hình thành thêm một số ngành mới.

Thêm vào đó, một số doanh nghiệp của Việt Nam đã tận dụng được cơ hộ để nâng cao năng lực sản xuất và năng lực cạnh tranh để có thể vươn ra tầm khu vực.

Nhưng cũng phải nhìn nhận một thực tế, trên vài phương diện rất quan trọng, đến nay chúng ta vẫn chưa đạt được như kế hoạch đặt ra. Đơn cử trong ngành công nghiệp hỗ trợ, chỉ một số ít doanh nghiệp có thể đạt được kế hoạch về nâng cao tỷ lệ nội địa hóa như mục tiêu ban đầu đối với ngành này và có thể trở thành trụ cột cho ngành công nghiệp phát triển.

- Vậy nguyên nhân của những yếu kém trên là gì thưa ông?

Tiến sỹ Lê Xuân Sang: Có thể thấy, dù Việt Nam là nước đi sau nhưng trình độ trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ còn thấp, chưa ứng dụng được nhiều thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất trong khi năng lực của doanh nghiệp lại yếu kém, chưa bắt kịp với xu hướng đi lên của thế giới chính vì thế chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ khó đạt được như kế hoạch đề ra.

Hơn nữa do trình độ phát triển thấp nên không bảo đảm được lợi thế kinh tế về vĩ mô cho công nghiệp hỗ trợ và không đảm bảo được trình độ nhân lực chất lượng cao để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh cho toàn ngành.

Quan trọng hơn, chúng ta cũng phải thấy một yếu tố quan trọng không kém chính là việc đầu tư vốn cho lĩnh vực này vẫn còn chưa nhiều. Thực tế, chính sách hỗ trợ của Việt Nam vào lĩnh vực công nghiệp phụ trợ thời gian qua đã có nhưng chậm được ban hành. Đặc biệt là việc tiếp cận nguồn vốn cho công nghiệp phụ trợ gần đây mới được thể chế hóa, do vậy cùng với năng lực yếu kém của doanh nghiệp thì công nghiệp phụ trợ phát triển chậm là việc dễ hiểu.

Một điểm nữa là việc hoạch định chính sách đối với lĩnh vực công nghiệp phụ trợ chưa thực sự hiệu quả. Tất cả các yếu tố trên là nguyên nhân cơ bản khiến công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam chưa đạt được như kỳ vọng, hậu quả là giá trị tạo ra trong nước của nhiều ngành rất thấp, kéo theo nhập khẩu nhiều, chính vì vậy người được hưởng lợi nhiều hơn trong ngành lại là những nước mà Việt Nam nhập khẩu hàng hóa.

Chính vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu và đặc biệt với việc đề cao vai trò Chính phủ kiến tạo, việc thiết kế chính sách phải chuyên nghiệp hơn, thông minh hơn và nâng cao một cách cơ bản thì Việt Nam với tính cách là người đến muộn, mới thu được lợi nhiều hơn từ việc hội nhập, nhất là các FTA thế hệ cao.

Tại hội thảo "Chính sách công nghiệp quốc gia của Việt Nam đến năm 2025," tổ chức mới đây, nhiều ​tham luận đã chỉ ra các bất cập đối với ngành này trong vấn đề năng lực cạnh tranh, năng suất lao động và tỷ lệ nội địa hóa...

Để có cách nhìn toàn diện hơn, Tiến sỹ Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, đã có một số trao đổi với phóng viên về cơ chế chính sách hiện nay, qua đó đóng góp những ý kiến nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp của Việt Nam trong thời gian tới.

- Thưa ông, những lo ngại về ngành công nghiệp nhất là công nghiệp phụ trợ đã được chuyên gia đề cập tới, vậy ông đánh giá thế nào về chính sách phát triển công nghiệp trong thời gian vừa qua?

Tiến sỹ Lê Xuân Sang: Cũng phải nói rằng, trong vài thập niên qua, chính sách phát triển ngành công nghiệp của Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận. Có thể thấy, cùng với sự hỗ trợ của ngành công nghiệp đã góp phần hình thành thêm một số ngành mới.

Thêm vào đó, một số doanh nghiệp của Việt Nam đã tận dụng được cơ hộ để nâng cao năng lực sản xuất và năng lực cạnh tranh để có thể vươn ra tầm khu vực.

Nhưng cũng phải nhìn nhận một thực tế, trên vài phương diện rất quan trọng, đến nay chúng ta vẫn chưa đạt được như kế hoạch đặt ra. Đơn cử trong ngành công nghiệp hỗ trợ, chỉ một số ít doanh nghiệp có thể đạt được kế hoạch về nâng cao tỷ lệ nội địa hóa như mục tiêu ban đầu đối với ngành này và có thể trở thành trụ cột cho ngành công nghiệp phát triển.

- Vậy nguyên nhân của những yếu kém trên là gì thưa ông?

Tiến sỹ Lê Xuân Sang: Có thể thấy, dù Việt Nam là nước đi sau nhưng trình độ trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ còn thấp, chưa ứng dụng được nhiều thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất trong khi năng lực của doanh nghiệp lại yếu kém, chưa bắt kịp với xu hướng đi lên của thế giới chính vì thế chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ khó đạt được như kế hoạch đề ra.

Hơn nữa do trình độ phát triển thấp nên không bảo đảm được lợi thế kinh tế về vĩ mô cho công nghiệp hỗ trợ và không đảm bảo được trình độ nhân lực chất lượng cao để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh cho toàn ngành.

Quan trọng hơn, chúng ta cũng phải thấy một yếu tố quan trọng không kém chính là việc đầu tư vốn cho lĩnh vực này vẫn còn chưa nhiều. Thực tế, chính sách hỗ trợ của Việt Nam vào lĩnh vực công nghiệp phụ trợ thời gian qua đã có nhưng chậm được ban hành. Đặc biệt là việc tiếp cận nguồn vốn cho công nghiệp phụ trợ gần đây mới được thể chế hóa, do vậy cùng với năng lực yếu kém của doanh nghiệp thì công nghiệp phụ trợ phát triển chậm là việc dễ hiểu.

Một điểm nữa là việc hoạch định chính sách đối với lĩnh vực công nghiệp phụ trợ chưa thực sự hiệu quả. Tất cả các yếu tố trên là nguyên nhân cơ bản khiến công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam chưa đạt được như kỳ vọng, hậu quả là giá trị tạo ra trong nước của nhiều ngành rất thấp, kéo theo nhập khẩu nhiều, chính vì vậy người được hưởng lợi nhiều hơn trong ngành lại là những nước mà Việt Nam nhập khẩu hàng hóa.

Chính vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu và đặc biệt với việc đề cao vai trò Chính phủ kiến tạo, việc thiết kế chính sách phải chuyên nghiệp hơn, thông minh hơn và nâng cao một cách cơ bản thì Việt Nam với tính cách là người đến muộn, mới thu được lợi nhiều hơn từ việc hội nhập, nhất là các FTA thế hệ cao.

 

Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) giữa ASEAN và 6 đối tác đã có FTA với ASEAN là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand bắt đầu đàm phán từ ngày 9/5/2013...

Điểm khác biệt lớn nhất của TPP và RCEP là việc áp đặt tiêu chuẩn hoạt động thương mại. Không như TPP, được coi là một hiệp định thế hệ mới yêu cầu sự đồng nhất chặt chẽ giữa các nước thành viên và có "chất lương cao", RCEP đặt ra các tiêu chuẩn thấp hơn và chấp thuận việc các nước thành viên đặt các rào cản không đồng nhất...

RCEP chú trọng hơn vào việc phát triển đồng nhất nền kinh tế của khu vực ASEAN, kết hợp giữa tầm nhìn khu vực ASEAN + 3 của Trung Quốc và ASEAN + 6 của Nhật Bản để kết nối giữa những quốc gia đã sẵn có thoả thuận sẵn với nhau.

 

Đức Duy (http://www.vpbs.com.vn/)

TVH

(http://www.vpbs.com.vn/)