"Tôi tin Phạm Nhật Vượng, Trần Bá Dương, Đặng Lê Nguyên Vũ ... nói thật về khát vọng Việt Nam (05/11/2019)

"Trong lời nói, hành động của nhiều doanh nhân Việt thể hiện về một khát vọng mang đến những điều tốt đẹp nhất cho đất nước này. Tôi tin là họ nói thật chứ không đạo đức giả hay mua chuộc kiểu dân tuý. Tôi cũng tin là họ muốn trở nên lớn hơn để giúp tổ quốc hùng cường", PGS. TS. Trần Đình Thiên, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng nói với báo Trí thức trẻ.

Hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 (29/08/2019)

Ngày 20/8/2019, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa ký ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.

Phát triển Ninh Thuận trở thành Trung tâm năng lượng tái tạo của Việt Nam (24/05/2019)

(Ninh Thuận, 24/05) Nhằm thu thập ý kiến các chuyên gia, nhà quản lý và nhất là các nhà đầu tư, làm luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn để xây dựng đề án thúc đẩy Ninh Thuận trở thành trung tâm năng lượng tái tạo, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và giúp địa phương tăng trưởng nhanh và hướng tới phát triển bền vững trong tương lai. Tỉnh Ninh Thuận phối hợp với Bộ Công thương, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học: “Phát triển Ninh Thuận thành Trung tâm năng lượng tái tạo của cả nước”.

Chuyên gia đề xuất Việt Nam thành lập 'Bộ Kinh tế Sáng tạo' (14/05/2019)

Chiều 13/5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã dự hội nghị "Các nhà khoa học đóng góp ý kiến cho Tiểu ban Kinh tế - Xã hội của Đại hội XIII của Đảng" được tổ chức tại Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Tham dự hội nghị ngoài các thành viên cấp cao nhất của Chính Phủ còn có các chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam. Đáng chú ý, tại hội nghị này, PGS.TS. Bùi Quang Tuấn - Viện trưởng Kinh tế Việt Nam đưa ra một ý tưởng khá mới mẻ và táo bạo khi đề xuất Việt Nam nên thành lập Bộ Kinh tế Sáng tạo. Ý tưởng được đưa ra dựa trên sự nhấn mạnh của chuyên gia này về kinh tế tri thức và vai trò của đổi mới sáng tạo trong việc đưa Việt Nam "hóa rồng".

Kinh tế 2018 sẽ tiếp đà tăng trưởng (17/02/2018)

Kinh tế Việt Nam 2018 được các chuyên gia kinh tế nhìn nhận sẽ tiếp đà tăng trưởng.

Chính sách nào cho mô hình kinh doanh Grab và Uber? (24/01/2018)

Hiện vẫn đang còn nhiều tranh cãi về hình thức của các mô hình Grap/Uber và đang gây lúng túng trong quản lý.

TS. Trần Đình Thiên cảnh báo về nguy cơ “bong bóng” trong năm 2018 như đã xảy ra 10 năm trước (09/01/2018)

“Năm 2018 có thể là năm xoay chuyển nhưng cũng có thể gây ra bong bóng”, TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam nói và dẫn chứng 3 yếu tố đã từng gây ra “bong bóng” 10 năm trước. Nhận xét này được ông Thiên đưa ra tại Hội thảo “Cơ hội đầu tư - kinh doanh 2018” do Trung tâm Tin tức VTV24 và BizLIVE tổ chức diễn ra tại Trung tâm hội nghị Quốc tế FLC Sầm Sơn, Thanh Hóa.

"Muốn không lỡ tàu cách mạng 4.0, Việt Nam phải cắn răng trả giá nhưng hình như cái cắn răng đang hơi yếu!" (19/12/2017)

Trong một thời gian ngắn, cách mạng 4.0 đã mang đến những sản phẩm ấn tượng như tiểu thuyết được trí tuệ nhân tạo chắp bút hay một cô robot có cảm xúc được thừa nhận quyền con người. Làn sóng công nghệ lan nhanh khiến nhiều quốc gia, nếu không chuyển mình sẽ bị bỏ lại và gánh nhiều hệ luỵ.

Bùng nổ vốn đăng ký đầu tư bất động sản, mừng hay lo? (17/12/2017)

Theo Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam - TS. Lê Xuân Sang, vốn đầu tư đăng ký mới trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản tăng mạnh không có nghĩa là thị trường bất động sản đã quá nóng và mất kiểm soát.

Hội thảo “Cải thiện chuỗi giá trị nông nghiệp của Việt Nam: Trường hợp ngành chè và trái vải trên thị trường quốc tế”

20/06/2019

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, một trong những mục tiêu cần hướng tới là xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp quy mô lớn và có giá trị gia tăng cao. Do đó, cả sản xuất và thương mại nông sản phải bắt đầu từ việc định hướng thị trường, gắn với quy hoạch vùng sản xuất và các giải pháp nhằm bảo đảm sự ổn định thị trường, đặc biệt là vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm.

Cải thiện chuỗi giá trị nông nghiệp của Việt Nam: Trường hợp ngành chè và trái vải trên thị trường quốc tế

Đây là tên gọi của Đề tài cấp Bộ do TS. Lê Văn Hùng, Viện Kinh tế Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm) thực hiện và là Chủ đề Hội thảo được Viện Hàn lâm và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) phối hợp tổ chức tại Khách sạn JW Marriott, số 8 Đỗ Đức Dục, Mễ Trì, Hà Nội ngày 19/06/2019. Hội thảo diễn ra nhằm trao đổi những vấn đề xung quanh việc phân tích các chuỗi sản phẩm chè và vải và chỉ ra những rào cản, hạn chế tham gia thị trường quốc tế của hai sản phẩm này để từ đó có những gợi ý giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng cho sản phẩm trên thị trường quốc tế.

TS. Lê Văn Hùng trình bày tham luận tại Hội thảo

Qua những nội dung báo cáo về những vấn đề nảy sinh trong quá trình nghiên cứu liên quan đến sản phẩm chè (Thái Nguyên) và trái vải (Bắc Giang), nhóm nghiên cứu cho biết: Hiện nay Nông nghiệp Việt Nam đã phát triển khá toàn diện, chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, năng suất và chất lượng. Giai đoạn 2008 - 2017, tốc độ tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp đạt trung bình 2,66%/năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại, phát huy lợi thế về thị trường, tăng nhanh tỷ trọng của các ngành, sản phẩm có dư địa và giá trị gia tăng cao.

Sự phát triển về sản xuất, thương mại nông sản đã góp phần tích cực cho sự phát triển nông nghiệp - nông thôn Việt Nam trong thời gian qua. Một số nông sản chủ lực đã khẳng định được vị thế và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, như gạo, cà phê và một số nông sản chủ lực trong đó phải kể đến là chè và trái vải.

Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập, nông nghiệp Việt Nam đã, đang và sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức không nhỏ, đặc biệt là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, tổ chức sản xuất, liên kết chuỗi giá trị còn yếu, chất lượng nông sản chưa đồng đều, sản phẩm không có thương hiệu, mức độ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế, chủ yếu là công đoạn sản xuất, giá trị gia tăng thấp. Thực tế đó cũng chỉ ra rằng, chúng ta đang phải tổ chức sản xuất, thương mại theo tiêu chuẩn quốc tế, cạnh tranh theo luật chơi của quá trình hội nhập, cần sự thay đổi và thích ứng mạnh mẽ để đứng vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. 

Các đại biểu tham dự chụp ảnh lưu niệm tại Hội thảo

Đánh giá và trao đổi về nguồn lực và điều kiện cho phép Việt Nam về những rào cản thị trường quốc tế, nhóm nghiên cứu cho rằng: Mức độ tham gia của hai sản phẩm nông sản này của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế. Phân tích cho thấy: Thái nguyên với 21.361 ha và sự tham gia của hơn 60.000 hộ nông dân tham gia sản xuất và cung ứng chè; 80% diện tích chè toàn tỉnh là chè an toàn; 34% diện tích chè toàn tỉnh được chứng nhận VietGap và GAP khác; sản phẩm chè qua chế biến đạt 42.00 tấn; toàn tỉnh có 43 HTX và 140 làng nghề chè vẫn đứng trước những rào cản như tỷ lệ chè được chứng nhận VietGAP và GAP khác còn nhỏ; Gần một nửa diện tích được chứng nhận đã hết hạn; vẫn còn tình trạng nông dân lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật; chè được xuất khẩu dưới dạng thô, giá trị gia tăng của sản phẩm còn thấp do giá xuất khẩu thấp hơn các sản phẩm cùng loại của nhiều nước khác. Công tác nội tiêu chủ yếu qua đại lý bán lẻ hoặc bán tại các chợ truyền thống; Không có kho lưu chè tươi; Quy  mô sản xuất nhỏ…

Trái vải Bắc Giang, cụ thể là vải thiều Lục Ngạn đã được cấp văn bằng bảo hộ tại 8 quốc gia gồm Lào, Campuchia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Australia và Mỹ, một phần diện tích, sản lượng vải được dán tem nhãn thương hiệu, có QR code truy cứu thông tin và tem truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên năng suất trái vải vẫn phụ thuộc nhiều vào thời tiết; Chất lượng sản phẩm không đồng đều do sản xuất nhỏ, lẻ theo quy  mô hộ gia đình là chủ yếu; Thời gian thu hoạch của trái vải ngắn nhưng thiếu hệ thống dự trữ/bảo quản (kho lạnh) sau thu hoạch. Hầu hết các hộ thu hoạch xong đều bán tươi nên dễ bị ép giá (phần lớn do thương lái Trung Quốc đặt giá) dẫn đến tỷ lệ vải hỏng cao (15%); Xuất khẩu vải tươi đi các thị trường phát triển là rất hạn chế.

Trao đổi về những thách thức liên quan đến việc xuất khẩu trái vải, nhóm nghiên cứu chia sẻ: cần đẩy mạnh vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ giấy chứng nhận tiêu chẩn VietGap, GlobalGap, cấp mã vùng sản xuất; Trực tiếp tổ chức tư vấn và khuyến cao cáo hộ về thời điểm phun thước, bón phân, tỉa cảnh; Đào tạo, tập huấn cho nông dân về kỹ thuật sản xuất; Tổ chức các diễn đàn, chương trình xúc tiến thương mại; Ban hành các văn bản hướng dẫn các quy định về điều kiện xuất khẩu vải tươi sang thị trường Trung Quốc; Đẩy mạnh liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân; giảm thuế nhập khẩu, dỡ bỏ các rào cản phi thuế quan để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận thị trường; cần có các cảnh báo về thông tin về thời tiết sớm cho các hộ để có phương án chống đỡ cần thiết…

Các thành viên nhóm nghiên cứu

Các trao đổi sâu về những rào cản đối với hai sản phẩm này đều cho rằng có đến hơn 80% sản lượng nông sản xuất khẩu chưa xây dựng được thương hiệu, chưa có lô-gô, nhãn mác riêng và chưa tham gia đầy đủ vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đa phần các sản phẩm này được bán ra thị trường thế giới dưới dạng nguyên liệu hoặc sử dụng thương hiệu nước ngoài của các nhà nhập khẩu. Đây là một bất lợi lớn, khiến sức cạnh tranh của các loại nông sản Việt Nam trên thị trường còn yếu, chưa phát huy được hết giá trị và dư địa của sản phẩm;  sản phẩm chưa được xác định một cách rõ ràng về cách thức tiếp cận thị trường theo hướng định vị về chất lượng, thương hiệu, gắn với quy hoạch vùng sản xuất và các chính sách, giải pháp để tiếp cận, mở rộng và giữ vững thị phần, nâng cao sức cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu; Hệ thống thông tin và kết nối thị trường còn hạn chế: Năng lực phân tích, dự báo, nắm bắt xu hướng thị trường nông sản còn hạn chế, kênh chia sẻ thông tin thị trường đến các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất còn yếu và thiếu; Công tác nghiên cứu thị trường chủ yếu mang tính đột xuất, thời điểm, thời vụ...

Như vậy, có thể thấy xây dựng và phát triển thương hiệu là hướng đi phù hợp với tiềm năng về sản phẩm, kinh nghiệm và thực tiễn của các nước để nông sản của Việt Nam nâng cao giá trị, khả năng cạnh tranh và vị trí trên thị trường thế giới trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận hay nhãn hiệu tập thể đang dần chứng minh vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, góp phần bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống, bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần thúc đẩy sự phát triển hoạt động sản xuất, thương mại và nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm nông sản của Việt Nam theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững./.

Phạm Vĩnh Hà

(Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)